Lá số Tử Vi Đẩu Số

Tử Vi Đẩu Số dựng một tấm bản đồ đời người trên mười hai cung, mỗi cung phụ trách một mặt của cuộc sống. Nhập ngày giờ sinh dương lịch, hệ thống tự đổi sang âm lịch rồi an sao: mười bốn chính tinh, các vòng Tràng Sinh — Lộc Tồn — Thái Tuế, tứ hoá theo can năm sinh, Tuần và Triệt, cùng bảng đại vận mười năm một cung.

Mười hai cung nói về những gì

Cung Mệnh là tính cách gốc và hướng đi cả đời. Phụ Mẫu là cha mẹ và bề trên, Phúc Đức là phúc phần và đời sống tinh thần, Điền Trạch là nhà cửa đất đai, Quan Lộc là sự nghiệp, Nô Bộc là bạn bè và cộng sự, Thiên Di là chuyện ra ngoài và đi xa, Tật Ách là sức khoẻ, Tài Bạch là tiền bạc, Tử Tức là con cái, Phu Thê là hôn nhân, Huynh Đệ là anh chị em. Ngoài ra còn cung Thân — nó luôn trùng lên một trong sáu cung Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di, Quan Lộc hoặc Phúc Đức, và cho biết nửa đời sau nghiêng về mặt nào.

Vì sao Tử Vi cần giờ sinh hơn tử vi phương Tây

Cung Mệnh được an bằng cách khởi tháng Giêng tại cung Dần, đếm thuận tới tháng sinh rồi đếm nghịch theo giờ sinh. Nghĩa là sai một canh giờ thì cung Mệnh dịch nguyên một cung, kéo theo cả mười hai cung cùng dịch — khác hẳn chiêm tinh phương Tây, nơi thiếu giờ vẫn giữ được vị trí các hành tinh. Vì vậy nếu không nhớ giờ sinh thì lá số chỉ nên xem như tham khảo.

Âm lịch tính bằng thiên văn thật

Tháng âm bắt đầu đúng ngày chứa thời điểm trăng non, tháng 11 là tháng chứa ngày Đông chí, và tháng nhuận là tháng đầu tiên không chứa trung khí nào. Trang này lấy thời điểm trăng non và kinh độ Mặt Trời từ lịch thiên văn thật thay vì công thức đa thức xấp xỉ, nên những ngày sát biên — sinh vào đúng ngày chuyển tháng âm hoặc năm có tháng nhuận — không bị lệch.

Nên hiểu lá số thế nào

Lá số là công cụ để hiểu mình, không phải bản án. Sao xấu chỉ ra chỗ cần cẩn thận chứ không phải điềm đã định. Phần an sao ở đây theo lối phổ thông tại Việt Nam; một vài sao có dị bản giữa các trường phái nên có thể lệch so với thầy bạn quen xem.